Công nghiệp vật liệu chịu lửa là ngành công nghiệp sản xuất vật liệu sử dụng ở nhiệt độ cao, dùng để xây các loại lò nung như lò nung gốm sứ, vật liệu chịu lửa (VLCL), xi măng, lò nấu thuỷ tinh, luyện kim, xây dựng các buồng hồi nhiệt, buồng đốt nhiên liệu và các thiết bị làm việc ở nhiệt độ lớn hơn 1000 độ C.

Trên thế giới ngành công nghiệp vật liệu chịu lửa không ngừng phát triển, nó đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác như: công nghiệp xi măng, công nghiệp gốm sứ, công nghiệp thuỷ tinh… đặc biệt là ngành công nghiệp luyện kim, gạch chịu lửa được sử dụng khá lớn (chiếm 1/3 lượng vật liệu chịu lửa được sản xuất ra hàng năm trên thế giới). Chính vì vậy những nước có ngành công nghiệp luyện kim phát triển như: Liên Xô, Mỹ… đã tập chung đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp này từ rất sớm.
Trên thế giới vật liệu chịu lửa được sản xuất ra và mức độ sử dụng chúng không đều nhau, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

Theo thống kê trong những năm: 1953-1957 tại Mỹ và Liên Xô tập chung hơn một lửa sản lượng vật liệu chịu lửa trên thế giới, đặc biệt là các loại gạch sử dụng ở dải nhiệt độ: 1000 độ C-1700 độ C như: Samốt, Cao Alumin, Đinát, gạch chịu lửa kiềm tính. Cuối thế kỷ 20 và bước sang những năm đầu của thế kỷ thứ 21, do khoa học – kỹ thuật phát triển nhanh chóng, cho nên vật liệu chịu lửa được sản xuất và tiêu thụ đồng đều hơn trên toàn thế giới và đứng đầu là Cộng hoà liên bang Đức chuyên cung cấp trang thiết bị máy móc, lò nung để sản xuất vật liệu chịu lửa có chất lượng cao.

Trong những năm tới, xu hướng của ngành công nghiệp vật liệu chịu lửa trên thế giới, ngoài vật liệu chịu lửa thông thường còn đi sâu vào sản xuất các loại vật lệu chịu lửa có chất lượng cao đi từ các Oxýt tinh khiết như : Al2O3, MgO, Cr2O3 … Các loại vật liệu chịu lửa này có thể sử dụng nâu dài ở nhiệt độ cao trong những điều kiện nung luyện khắc nghiệt (t0 >2000 độ C), có độ bền hoá, bền nhiệt cao.

Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng vật liệu chịu lửa đã có từ lâu, nhưng mãi tới khi miền Bắc được giải phóng chúng ta mới bắt đầu xây dựng được một số nhà máy sản xuất vật liệu chịu lửa có quy mô nhỏ, công suất nhỏ, máy móc và thiết bị gia công nguyên liệu chủ yếu do Liên Xô (cũ) và Trung Quốc giúp đỡ, điển hình như các nhà máy :
Nhà máy vật liệu chịu lửa Cầu Đuống.
Nhà máy vật liệu chịu lửa Thái Nguyên.
Nhà máy vật liệu chịu lửa Tuyên Quang.

Trong những năm đó các nhà máy chỉ sản xuất được các gạch chịu lửa như: Samốt A, B, C, vữa chịu lửa, chất lượng sản phẩm còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghiệp. Cho nên chúng ta phải nhập khẩu khoảng: 40% các sản phẩm chịu lửa như: CaoAlumin, gạch kiềm tính, Đinát…để khắc phục được vấn đề này nhà nước đã có cải cách và đổi mới trong lĩnh vực sản xuất, nhằm phát triển và khai thác tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, giảm lượng gạch nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam; Bằng cách xây dựng và mở rộng các nhà máy sản xuất vật liệu chịu lửa trên toàn Quốc, tập trung quy hoạch ngành vật liệu chịu lửa thành một ngành công nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh và phát triển trong khu vực và trên thế giới. điển hình: Năm 2000, Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng đã nâng cấp và mở rộng nhà máy vật liệu chịu lửa Tam Tầng lên 16500(T/N) các sản phẩm:

Samốt A, B, C.
Vữa chịu lửa Samốt: A, B .